Bài mới

Ngữ liệu

Đề thi

Tự học

Công nghệ

Gợi ý giải đề thi HSG môn Ngữ văn 9 Đà Nẵng năm học 2025-2026

Đăng ngày tháng 3 24, 2026

DÀN Ý THAM KHẢO

XEM THÊM: Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 9 Đà Nẵng năm học 2025-2026

Câu 1: Nghị luận xã hội (4,0 điểm)

Vấn đề: Suy nghĩ về cách cảm nhận cuộc sống bằng cái nhìn khách quan, chân thực (từ hiện tượng đánh giá vạn vật qua vẻ bề ngoài trong đoạn trích).

Gợi ý giải đề thi HSG môn Ngữ văn 9 Đà Nẵng 2025

1. Giải thích vấn đề:

- Từ đoạn trích: Tác giả Đặng Hoàng Giang chỉ ra một thiên kiến tâm lý phổ biến: con người thường dựa vào vẻ bề ngoài (sự dễ thương, xinh đẹp, to lớn...) để phán xét bản chất (tốt - xấu, cao đẳng - hạ đẳng).

- Rút ra vấn đề: Đó là cái nhìn chủ quan, đầy định kiến. Từ đó, đề bài đặt ra yêu cầu phải có “cái nhìn khách quan, chân thực” – tức là nhìn nhận vạn vật, con người và cuộc đời đúng với bản chất vốn có của nó, thấu suốt từ hiện tượng đến bản chất, không bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời hay lớp vỏ bọc bên ngoài.

2. Bàn luận và Chứng minh:

- Vì sao ta hay mắc phải cái nhìn chủ quan, thiên kiến? Do bản năng chuộng cái đẹp, do sự hời hợt, lười biếng trong tư duy, hoặc do bị ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông, truyền thông.

- Giá trị của cái nhìn khách quan, chân thực:

+ Giúp ta phát hiện ra những vẻ đẹp lẩn khuất, khuất lấp (“vẻ đẹp của cảnh sắc tầm thường”, sự lương thiện bên trong một ngoại hình không bắt mắt).

+ Giúp ta đối xử công bằng, nhân văn hơn với đồng loại và với cả thế giới tự nhiên.

+ Giúp ta đưa ra những quyết định đúng đắn, không bị đánh lừa bởi những “màn kịch” lộng lẫy của thời đại số.

- Dẫn chứng: Học sinh có thể lấy dẫn chứng từ đời sống xã hội (những hiện tượng miệt thị ngoại hình - body shaming, sự vội vã kết tội một người trên mạng xã hội chỉ qua một bức ảnh/đoạn clip cắt ghép...).

3. Trải nghiệm bản thân

Học sinh cần kể lại một trải nghiệm thật của chính mình: Từng có lúc phán xét sai lầm một người bạn/một sự việc chỉ vì vẻ bề ngoài, và bài học nhận ra sau đó; hoặc ngược lại, việc kiên nhẫn dùng cái nhìn khách quan để thấu hiểu một người đã mang lại giá trị gì.

4. Mở rộng & Phản biện:

Nhìn khách quan không có nghĩa là lạnh lùng, vô cảm như một cỗ máy. Khách quan dựa trên nền tảng của sự thấu cảm, của một trái tim biết yêu thương để hiểu đúng, hiểu sâu.

Câu 2 (6,0 điểm): Phân tích bài thơ “Người gánh rơm vào thành phố” làm sáng tỏ nhận định về cội nguồn văn chương.

1. Mở bài

- Dẫn dắt từ đặc trưng sáng tạo của văn chương: Văn học là hình thái ý thức xã hội đặc thù, bám rễ vào hiện thực nhưng đơm hoa kết trái nhờ tâm hồn người nghệ sĩ.

- Trích dẫn nhận định: “Văn chương bắt nguồn từ cái nhìn yêu thương và trân trọng của nghệ sĩ trước hiện thực đời sống”.

- Giới thiệu bài thơ Người gánh rơm vào thành phố (Chử Văn Long) như một minh chứng xuất sắc. Qua lăng kính đầy tình cảm ấy, tác phẩm đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh của mình đối với bạn đọc qua ba chức năng: nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ.

2. Thân bài

a. Giải thích nhận định

- “Hiện thực đời sống”: Là chất liệu nguyên thủy, là đối tượng phản ánh của văn học. Tuy nhiên, hiện thực ấy tự nó chưa thể thành thơ.

- “Cái nhìn yêu thương và trân trọng”: Là lăng kính chủ quan của nhà văn. Đó là thái độ đồng cảm, nâng niu, là trái tim nhân đạo của người cầm bút.

- Tiểu kết lí luận: Nhận định khẳng định cội nguồn của văn chương là sự giao thoa giữa hiện thực khách quan và tình cảm chủ quan. Chính cái nhìn trắc ẩn này là ngòi nổ kích hoạt sức mạnh của văn chương, giúp tác phẩm vượt qua việc sao chép hiện thực đơn thuần để thực hiện chức năng khám phá cái Đẹp, mở rộng hiểu biết và thanh lọc tâm hồn.

b. Phân tích tác phẩm để chứng minh

- Luận điểm 1: Cái nhìn trân trọng khơi dậy CHỨC NĂNG THẨM MỸ (Phát hiện vẻ đẹp thơ mộng từ hiện thực lấm láp)

+ Hiện thực: Khổ 1 mở ra một không gian đối lập gay gắt giữa “thành phố ồn ào xe cộ” và hình ảnh “chị gánh rơm tươi” nhọc nhằn (“che lút hết người”).

+ Góc nhìn nghệ sĩ & Chức năng thẩm mỹ: Dưới con mắt vô tình, gánh rơm có thể là sự cồng kềnh, quê mùa. Nhưng với cái nhìn nâng niu, Chử Văn Long đã thực hiện xuất sắc chức năng thẩm mỹ: biến cái bình dị thành cái Đẹp. Điệp cấu trúc “Như là không phải chị gánh rơm đi mà chị gánh...” đã thi vị hóa hiện thực. Gánh rơm mang theo cả không gian văn hóa đồng quê: “niềm vui mùa màng”, “mây bay lượn”, “chim ríu ran”. Thơ ca đã tìm thấy cái Đẹp ngay giữa những điều tưởng chừng thô ráp nhất.

- Luận điểm 2: Cái nhìn yêu thương (Thấu hiểu bề sâu của sự cọc cằn, nhọc nhằn)

+ Sự chuyển kênh cảm xúc: Chữ “nhưng” ẩn sau ánh nhìn của nhà thơ. Mạch thơ chuyển từ lãng mạn sang hiện thực trần trụi ở khổ 3.

+ Góc nhìn nghệ sĩ & Chức năng nhận thức: Tình yêu thương không cho phép nhà văn chỉ nhìn thấy vẻ đẹp bề nổi. Trái tim thấu cảm buộc nhà thơ nhận thức sâu sắc thân phận con người: phía sau sợi rơm vàng là “bao tháng ngày trăn trở lo âu”, là sức nặng của mưu sinh “trĩu nặng” đôi vai, là mồ hôi nước mắt “tình đồng cạn đồng sâu”. Qua đó, văn học giúp người đọc nhận thức được sự thật nhọc nhằn của người nông dân đằng sau những sản vật bình dị, mở rộng vốn hiểu biết và chiều sâu tư duy của độc giả về đời sống.

- Luận điểm 3: Cái nhìn thấu cảm (Thức tỉnh lương tri và triết lý nhân sinh)

+ Sự thăng hoa của cảm xúc: Hai khổ cuối là những câu hỏi tu từ đầy day dứt. Rơm để “trộn vữa trát trần” (giá trị vật chất phàm tục) hay để “nhắc lòng ta nhớ” (giá trị tinh thần)?

+ Góc nhìn nghệ sĩ & Chức năng giáo dục: Từ cái nhìn yêu thương một phận người, nhà thơ hướng tới việc giáo dục nhân cách cả một thế hệ. Tác phẩm nhẹ nhàng mà thấm thía nhắc nhở những con người thị thành về lòng biết ơn (“Bao nắng sương hạt gạo mình ăn”), về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Văn học không thuyết giáo đạo đức khô khan; nó giáo dục và gột rửa tâm hồn con người bằng con đường lan tỏa cảm xúc. Dấu chấm lửng cuối bài là một nốt trầm để sự thức tỉnh vang vọng mãi.

c. Đánh giá, tổng hợp

- Về nghệ thuật: Thể thơ tự do phóng khoáng, hình ảnh thơ mang tính biểu tượng cao (gánh rơm), ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, phép điệp từ/cấu trúc tạo âm hưởng day dứt.

- Bàn luận mở rộng: Mọi kỹ thuật ngôn từ sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu đi “cái nhìn yêu thương và trân trọng”. Cội nguồn cốt lõi của văn học là Tình người. Thiếu đi tấm lòng, văn học sẽ đánh mất khả năng nhận thức, không thể giáo dục ai và cũng chẳng tạo ra được giá trị thẩm mỹ nào chân chính. Tác phẩm của Chử Văn Long sống được chính nhờ sự dung hòa tuyệt vời này.

3. Kết bài

- Khẳng định lại tính đúng đắn của nhận định.

- Nêu ấn tượng, bài học cá nhân từ tác phẩm Người gánh rơm vào thành phố.

 -----o0o-----

BÀI VIẾT THAM KHẢO

Câu 1. Nghị luận xã hội

Nhà văn vĩ đại người Pháp Antoine de Saint-Exupéry trong tác phẩm bất hủ “Hoàng tử bé” từng để lại một triết lý khiến nhân loại phải mãi thổn thức: “Người ta chỉ có thể nhìn thấy rõ ràng bằng trái tim. Cái cốt yếu thì con mắt không thể nhìn thấy được”. Lời khẳng định ấy như một tiếng chuông cảnh tỉnh gõ vào màng nhĩ của những con người chỉ biết đánh giá hời hợt, quen dùng đôi mắt vật lý chớp nhoáng để định giá toàn bộ chiều sâu của sự sống. Đoạn trích trong “Vẻ đẹp của cảnh sắc tầm thường” đã bóc trần một sự thật phũ phàng về thiên kiến tâm lý của con người: chúng ta thường gán ghép cái đẹp bề ngoài với sự tốt lành, và mặc định cái xấu xí là sự hạ đẳng, sai trái. Từ lăng kính của Tò Mò và Suy Ngẫm về thế giới tự nhiên, vấn đề trăn trở được ném vào mặt hồ tâm trí chúng ta: Làm thế nào để phá vỡ lớp vỏ bọc định kiến ấy, để chạm đến cách cảm nhận cuộc sống bằng cái nhìn khách quan, chân thực?

Để thấu hiểu giá trị của một cái nhìn khách quan, trước hết ta cần dũng cảm đối diện với “căn bệnh” chủ quan mà hầu hết nhân loại đều mắc phải: Thiên kiến thẩm mỹ. Trong đoạn trích, thông qua lăng kính của hai nhân vật, Đặng Hoàng Giang đã chỉ ra một ranh giới phân cực tàn nhẫn mà con người tự vạch ra cho vạn vật. Chúng ta ngưỡng mộ đại bàng sải cánh, sư tử uy nghi; chúng ta xao xuyến trước vẻ lộng lẫy của một cánh bướm hay sự đáng yêu, ngây thơ của “những con khiến ta liên tưởng tới mặt trẻ em” như gấu koala, cừu non. Và ở thái cực ngược lạ\, ta không ngần ngại ném cái nhìn gớm ghiếc, khinh miệt vào những sinh linh chui rúc, trườn bò như sâu, đỉa, gián, nhện... Ta tự cho mình cái quyền phán xét chúng là “thấp kém”, “hạ đẳng”. Đáng sợ hơn, thiên kiến ấy không dừng lại ở thế giới tự nhiên mà vươn chiếc vòi bạch tuộc của nó vào xã hội loài người. “Người xinh đẹp thì hay được mặc định là tốt, đáng tin cậy... Các nhân vật phản diện trong phim ảnh thì chắc chắn trông phải xấu rồi”.

Vì sao chúng ta lại dễ dàng rơi vào cái bẫy của nhãn quan hời hợt ấy? Dưới góc độ sinh học và tâm lý học tiến hóa, con người được lập trình để bị thu hút bởi sự đối xứng, ánh sáng, màu sắc rực rỡ và những hình hài mềm mại, bởi trong vô thức, đó là tín hiệu của sự an toàn, khỏe mạnh và sinh tồn. Ngược lại, những thứ u tối, sần sùi, méo mó thường kích hoạt cơ chế phòng vệ, gieo rắc cảm giác bất an. Tuy nhiên, khi xã hội loài người tiến hóa, việc để bản năng sinh học thô sơ ấy dẫn dắt nhận thức lại trở thành một bi kịch của trí tuệ. Cái bẫy “Halo effect” (Hiệu ứng hào quang) khiến ta lười biếng trong tư duy. Ta dùng một đặc điểm nổi bật (sự xinh đẹp, sự đáng yêu) để bao trùm lên toàn bộ bản chất (nhân cách, giá trị, tài năng). Đó là một cái nhìn chủ quan, méo mó và mang tính tư lợi. Ta chỉ thích những gì làm thỏa mãn nhãn quan của chính mình, và tàn nhẫn gạt bỏ những gì đi ngược lại với tiêu chuẩn thẩm mỹ cá nhân.

Hệ lụy của cái nhìn chủ quan, đầy định kiến ấy là vô cùng tàn khốc. Khi đánh giá cuộc sống bằng một đôi mắt đeo kính màu của sự thiên vị, ta đang tự giam mình trong một nhà tù của sự nông cạn và dung túng cho những bất công. Trong tự nhiên, sự ưu ái mù quáng khiến con người dồn tiền bạc để bảo tồn những loài thú “đáng yêu” nhưng lại thờ ơ trước sự tuyệt chủng của những loài côn trùng xấu xí vốn đóng vai trò mắt xích sống còn trong hệ sinh thái. Trong xã hội loài người, cái nhìn chủ quan đẻ ra sự miệt thị ngoại hình (body-shaming), đẻ ra những án tử hình vô hình bằng ngôn từ trên mạng xã hội dành cho những người không đáp ứng được chuẩn mực số đông. Nó tước đi cơ hội của những người tài năng nhưng không có một vẻ ngoài bắt mắt. Tệ hại hơn, cái nhìn chủ quan khiến ta dễ dàng trở thành nạn nhân của những kẻ phản diện mang gương mặt thiên thần. Bao nhiêu cú lừa ngoạn mục trong lịch sử, bao nhiêu kẻ lừa đảo khoác lên mình bộ vest hào nhoáng, bao nhiêu cái ác được dung túng chỉ vì nó mang một diện mạo mĩ miều? Khi chỉ tin vào bề nổi, ta đang từ chối việc chạm tay vào sự thật.

Chính vì lẽ đó, việc rèn luyện cách cảm nhận cuộc sống bằng cái nhìn khách quan, chân thực là một cuộc cách mạng của nhận thức, là sự thức tỉnh của một tâm hồn trưởng thành. Khách quan không có nghĩa là lạnh lùng, vô cảm như một cỗ máy đo lường. Khách quan là khả năng gác lại những cảm xúc yêu – ghét bản năng, gỡ bỏ lăng kính của những định kiến có sẵn để nhìn nhận sự vật, hiện tượng và con người đúng như những gì chúng vốn có. Chân thực là thái độ tôn trọng sự thật, dẫu sự thật ấy có xù xì, góc cạnh và không hề chiều chuộng cảm xúc của ta.

Cái nhìn khách quan mang lại cho ta sự minh triết. Khi nhìn một con sâu róm, thay vì thấy sự gớm ghiếc, cái nhìn khách quan và trí tuệ sẽ thấy một chu kỳ sống kỳ diệu của tự nhiên, thấy sự nhẫn nại của một sinh mệnh đang đợi ngày hóa bướm. Khi nhìn một con người, thay vì vội vã đánh giá họ qua bộ quần áo rẻ tiền hay gương mặt không hoàn mỹ, cái nhìn chân thực sẽ kiên nhẫn bóc tách từng lớp thời gian để lắng nghe câu chuyện của họ, để thấy được tài năng bị che khuất, thấy được sự lương thiện kiên cường sau những vết sẹo của cuộc đời. Trong tác phẩm “Nhà thờ Đức Bà Paris”, Victor Hugo đã giáng một đòn mạnh mẽ vào thiên kiến của loài người khi xây dựng hình tượng thằng gù Quasimodo xấu xí, dị dạng đến ma chê quỷ hờn nhưng lại sở hữu một trái tim thánh thiện, yêu thương vô điều kiện. Trong khi đó, đại úy Phoebus mang vẻ đẹp rạng ngời như một vị thần lại ẩn chứa một nhân cách đê hèn, giả dối. Nếu không có một cái nhìn khách quan để thấu suốt bản chất, làm sao nhân loại có thể tìm thấy những viên ngọc quý bị vùi lấp dưới bùn lầy của định kiến?

Hơn thế nữa, cảm nhận cuộc sống một cách chân thực giúp ta đạt được trạng thái tự do tuyệt đối trong tâm hồn. Ta không còn bị dao động bởi những lời tung hô phù phiếm, không bị thao túng bởi những “màn kịch” được dàn dựng tinh vi trên truyền thông. Ta biết chấp nhận sự không hoàn hảo của thế giới như một lẽ tất yếu. Ta học được cách bao dung với người khác và bao dung với chính sự chưa hoàn thiện của bản thân mình. Đó là nền tảng của một xã hội nhân văn, bình đẳng và thấu cảm.

Trải nghiệm của chính bản thân tôi là một minh chứng sâu sắc cho hành trình đập vỡ lớp vỏ chủ quan để chạm đến cái nhìn chân thực. Trong những năm tháng đầu cấp hai, lớp tôi có một cậu bạn tên K. K. luôn thu mình ở góc lớp, gương mặt lúc nào cũng cau có, khó đăm đăm, quần áo có phần xộc xệch và đặc biệt là cách nói chuyện cộc lốc, không hề biết làm vui lòng người khác. Giữa một tập thể chuộng những người bạn cởi mở, hoạt ngôn và ăn mặc sành điệu, K. như một nốt trầm lạc điệu, một “con sâu xám” mà chẳng ai muốn tới gần. Bằng cái nhìn chủ quan của một đứa trẻ thích sự hoàn hảo, tôi đã mặc định K. là kẻ lập dị, khó tính và không đáng để kết giao. Tôi ném cho cậu ấy sự thờ ơ lạnh nhạt, hệt như cách con chim mào đỏm dáng trong đoạn trích nhìn con sâu biển rồi vụt bay đi.

Nhưng rồi, một biến cố nhỏ đã làm thay đổi hoàn toàn hệ quy chiếu của tôi. Hôm ấy, lớp tôi tổ chức cắm trại. Giữa trưa hè oi ả, khi những người bạn “hot boy, hot girl” hào nhoáng thường ngày đang mải mê chụp ảnh check-in và than vãn về cái nóng, bỏ mặc đống lều trại đang dựng dang dở bị gió thổi xiêu vẹo, thì tôi thấy K. lẳng lặng một mình dưới nắng gắt. Cậu ấy không nói một lời, hai bàn tay chai sần kiên nhẫn buộc lại từng nút thắt, đóng lại từng chiếc cọc sâu xuống đất để giữ cho cái lều của cả lớp không bị sập. Khi một bạn nữ vô ý làm đổ nồi canh khiến tay bị bỏng, trong khi mọi người hoảng loạn la hét và đứng nhìn, chính K. – với gương mặt vẫn cộc lốc ấy – đã nhanh chóng chạy đi lấy nước mát sơ cứu và cẩn thận dùng chiếc khăn sạch nhất của mình để băng lại.

Khoảnh khắc ấy, mọi định kiến trong tôi sụp đổ. Tôi chợt nhận ra mình đã hời hợt và tàn nhẫn đến mức nào. Tôi đã đánh giá một con người dựa trên cái “vỏ sò” xù xì bên ngoài mà lờ đi viên ngọc trai lấp lánh của sự tận tụy, trách nhiệm và lòng tốt thầm lặng bên trong. Nếu tiếp tục ôm giữ cái nhìn phân cực, chuộng sự hào nhoáng bề mặt, tôi sẽ vĩnh viễn đánh mất một người bạn tuyệt vời. Từ ngày đó, tôi học cách nhìn cuộc đời chậm lại. Tôi ép mình bước qua hàng rào của sự phản cảm ban đầu để quan sát, để lắng nghe, để chờ đợi bản chất thật sự của vạn vật và con người lên tiếng. Trải nghiệm ấy dạy tôi rằng, cuộc đời không phải là một bộ phim hoạt hình nơi người tốt luôn mặc áo trắng và kẻ ác luôn có gương mặt dữ tợn. Cuộc đời là một bức tranh phức tạp của những mảng sáng tối đan xen, đòi hỏi một nhãn quan kiên nhẫn, sắc sảo và một trái tim đủ rộng lớn để bao dung.

Tuy nhiên, lật lại vấn đề, có phải cảm nhận cuộc sống bằng cái nhìn khách quan, chân thực đồng nghĩa với việc ta phải triệt tiêu mọi cảm xúc, biến mình thành kẻ bàng quan, dửng dưng trước cái Đẹp? Không hề. Một bức tranh hoàng hôn vẫn rực rỡ, một giai điệu hay vẫn khiến ta rơi nước mắt. Khách quan không cấm ta rung động trước sự hoàn mỹ, nhưng nó ngăn ta không được dùng sự rung động ấy làm thước đo duy nhất để phán xét nhân phẩm hay giá trị sinh tồn của những thứ ít hoàn mỹ hơn. Khách quan chân thực là sự kết hợp tuyệt vời giữa một “cái đầu lạnh” để lý trí phân tích, không bị thao túng, và một “trái tim nóng” để thấu cảm, xót thương và trân trọng mọi hình thái của sự sống.

Hành trình để có được cái nhìn khách quan không phải là chuyện của một sớm một chiều. Nó đòi hỏi sự tu dưỡng liên tục về trí tuệ để có đủ hiểu biết nhìn thấu những màn sương mù của định kiến. Nó đòi hỏi sự khiêm tốn để nhận ra rằng góc nhìn của mình có thể sai lầm, rằng sự thật bao giờ cũng lớn hơn những gì đôi mắt ta nhìn thấy. Và quan trọng nhất, nó đòi hỏi tình yêu thương. Bởi chỉ khi có tình yêu thương vạn vật bình đẳng, ta mới có đủ kiên nhẫn để bóc tách lớp vỏ bọc xấu xí, tìm thấy và tôn vinh vẻ đẹp chân thực ẩn sâu bên trong.

Cuộc sống là một cuốn sách vĩ đại không có trang nào thừa. Từng ngọn cỏ dại hoang vu, từng con côn trùng lấm lem, từng con người mang nhiều khiếm khuyết đều đang cất lên bài ca sinh tồn mang giá trị độc bản của riêng họ. Đừng để thiên kiến của một đôi mắt chủ quan nhốt ta vào một thế giới chật hẹp, cằn cỗi. Hãy mài sắc lý trí và mở rộng trái tim để cảm nhận thế giới này bằng một cái nhìn khách quan, chân thực và nhân ái nhất. Bởi đến cuối cùng, cách ta nhìn ngắm cuộc đời sẽ quyết định cách ta sống và cách ta yêu thương. “Nhìn thấu” không phải để ruồng bỏ, mà “nhìn thấu” là để ôm trọn thế giới này vào lòng.

Câu 2. Nghị luận văn học

Nhà văn vĩ đại người Nga M. Gorky từng để lại một đúc kết đầy ám ảnh về cội nguồn và đích đến của nghệ thuật: “Văn học là nhân học”. Một tác phẩm văn chương chân chính, dẫu viết về cành hoa, ngọn cỏ hay những thân phận cần lao lấm láp, thì trạm dừng chân cuối cùng vẫn là để khám phá, ngợi ca và trân trọng con người. Để làm được điều đó, người nghệ sĩ không thể đứng trên tháp ngà gõ những nhịp điệu rỗng tuếch, mà phải dấn thân vào cõi nhân sinh bề bộn bằng một trái tim trĩu nặng ân tình. Nhận định: “Văn chương bắt nguồn từ cái nhìn yêu thương và trân trọng của nghệ sĩ trước hiện thực đời sống” giống như một chiếc chìa khóa vàng, mở ra cho ta lối đi sâu thẳm vào thế giới nghệ thuật của bài thơ Người gánh rơm vào thành phố – một thi phẩm đầy day dứt và nhân văn của tác giả Chử Văn Long.

Nếu ví hiện thực đời sống là một khối quặng thô ngổn ngang và bề bộn, thì “cái nhìn yêu thương và trân trọng của nghệ sĩ” chính là ngọn lửa thiêng liêng nung chảy khối quặng ấy, chưng cất thành thứ vàng mười của nghệ thuật. Lê Quý Đôn từng nói: “Thơ khởi phát từ trong lòng người ta”. Hiện thực khách quan dẫu phong phú đến đâu cũng chỉ là những sự kiện vô hồn nếu không được sưởi ấm bởi tình cảm của người cầm bút. Yêu thương và trân trọng không chỉ là thái độ, mà là lăng kính nhiệm màu. Khi nhà văn nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của sự trắc ẩn, họ sẽ phát hiện ra những vẻ đẹp lẩn khuất giữa chốn phàm trần, thấu cảm được tận cùng những nỗi đau nhân thế, và từ đó, dùng chính những rung động ấy để gõ cửa lương tri, gột rửa tâm hồn người đọc. Bài thơ Người gánh rơm vào thành phố của Chử Văn Long đã nảy mầm và đơm hoa từ mảnh đất của sự giao cảm thiêng liêng ấy.

Tác phẩm mở ra bằng một khung cảnh hiện thực mang tính đối lập gay gắt. Không chọn những chốn lầu son gác tía hay những nhân vật vĩ mô, đối tượng lọt vào nhãn quan của người nghệ sĩ lại là một hiện thực vô cùng bé nhỏ, lam lũ, tưởng chừng vô hình giữa guồng quay thời đại:

“Người gánh rơm đi vào thành phố Bó rơm to che lút hết người Giữa thành phố ồn ào xe cộ Bên lề đường chị gánh rơm tươi”

Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn, một bức tranh không gian đầy sức gợi đã được xác lập. Đó là sự va đập, cọ xát giữa hai thế giới: một bên là “thành phố ồn ào xe cộ”, phồn hoa, hối hả, rợp ngợp những thanh âm của máy móc hiện đại; một bên là “chị gánh rơm” lẻ loi, lặng lẽ đi “bên lề đường”. Chữ “che lút” là một nhãn tự đầy sức nặng. Nó không chỉ tả thực sự cồng kềnh của gánh rơm trên đôi vai gầy, mà còn là một ẩn dụ đầy xót xa về sự nhỏ bé, khuất lấp, yếu thế của con người lao động trước sự vĩ đại, lạnh lùng của chốn đô hội. Thử hỏi, giữa dòng đời tấp nập những dòng xe sang trọng trôi qua vội vã, mấy ai chịu sống chậm lại để nhường một ánh nhìn cho một gánh rơm quê mùa cản lối? Nhưng Chử Văn Long đã dừng lại. Nhà thơ không nhìn gánh rơm bằng đôi mắt ráo hoảnh, thực dụng, mà nhìn nó bằng nhịp đập rung lên của trái tim đồng cảm. Hình ảnh “rơm tươi” rực sáng ở cuối khổ thơ như một điểm nhấn tuyệt đẹp. Nó mang theo hơi thở nguyên sơ, ngai ngái, nồng nàn của ruộng đồng bùn đất, hiên ngang len lỏi vào giữa những khối bê tông vô hồn. Đó chính là khoảnh khắc sự thật đời sống chạm ngõ tâm hồn người nghệ sĩ, đòi hỏi được cất tiếng hát.

Và khi lăng kính của tình yêu thương được giăng lên, hiện thực dẫu có thô ráp, cồng kềnh bỗng được thi vị hóa, bừng sáng vẻ đẹp lấp lánh của nghệ thuật:

“Như là không phải chị gánh rơm đi mà chị gánh Cả niềm vui của những mùa màng Mây bay lượn trên cánh đồng gặt hái Chim ríu ran quanh sợi rơm vàng...”

Nhà văn Thạch Lam từng quan niệm: “Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường. Công việc của nhà văn là phải hiểu cái đẹp ở chính chỗ mà người ta không ngờ tới”. Chử Văn Long đã làm trọn vẹn sứ mệnh đánh thức cái đẹp ấy. Cấu trúc phủ định rồi khẳng định “Như là không phải... mà chị gánh” là một bước ngoặt kì diệu của tâm tưởng. Chị gánh rơm không còn oằn mình gánh sức nặng vật lý của thân cây lúa khô, mà chị đang gánh trên vai cả một không gian văn hóa ăm ắp chất thơ. Gánh rơm ấy chở theo “niềm vui mùa màng” no ấm của vạn người, chở theo bầu trời lồng lộng có “mây bay lượn”, chở theo những thanh âm trong trẻo của tiếng “chim ríu ran”. Nhãn tự “sợi rơm vàng” chói ngời ở cuối dòng thơ như gom góp hết thảy nắng gió của đất trời phồn thực. Bằng sự nâng niu đến tột cùng đối với những giá trị cội nguồn, nhà thơ đã hô biến một gánh hàng rong lam lũ thành một bức tranh lãng mạn, thanh khiết nhất. Gánh rơm bỗng hóa thành một đại sứ của đồng quê, mang theo bầu không khí mát lành đến xoa dịu sự ngột ngạt của thị thành. Nếu không có một tâm hồn đồng điệu, một tình yêu máu thịt với xóm làng, làm sao tác giả có thể nghe được tiếng chim, thấy được mây bay từ một gánh rơm khô gầy?

Thế nhưng, nghệ thuật chân chính không cho phép nhà văn chỉ mãi đắm chìm trong sự ngắm nhìn lãng mạn để huyễn hoặc mình và huyễn hoặc người. Tình yêu thương đích thực luôn thôi thúc người cầm bút lách ngòi bút sâu hơn vào tận cùng bản chất của sự sống. Vẫn là điệp cấu trúc quen thuộc, nhưng mạch thơ ở khổ ba đột ngột chuyển kênh từ bay bổng sang trĩu nặng:

“Như là không phải chị gánh rơm đi mà chị gánh Bao tháng ngày trăn trở lo âu Từng sợi rơm trên vai trĩu nặng Biết mấy tình đồng cạn đồng sâu...”

Ánh sáng lãng mạn đã nhường chỗ cho bóng râm của sự nhọc nhằn trần trụi. Đằng sau vẻ óng ả của sợi rơm vàng là cả một trầm tích của mồ hôi, nước mắt và sự khắc khoải. Chị gánh rơm đang oằn lưng cõng “bao tháng ngày trăn trở lo âu” trước những nắng hạn mưa dầm, trước giông bão thất thường của đời nông phu, trước nỗi lo cơm áo cắn rứt mỗi ban mai. Từ “trĩu nặng” vang lên như một tiếng thở dài nhọc nhằn rơi rụng xuống trang giấy. Nó không chỉ là sức nặng đè lên đôi vai gầy guộc, mà là sức nặng của gánh mưu sinh đè lên thân phận con người. Đặc biệt, câu thơ “Biết mấy tình đồng cạn đồng sâu...” là một tiếng nấc nghẹn ngào. Nó gói ghém tất cả sự can trường, bền bỉ và tình gắn bó thủy chung của người nông dân với ruộng đồng quê kiểng dẫu đất đai có lúc cằn cỗi, bạc màu. Nhờ có cái nhìn thấm đẫm tình người ấy, thơ ca đã xé toạc lớp vỏ bọc bề ngoài để bắt rễ vào cõi nhân sinh mỏi mệt. Ta chợt nhớ tới lời của Nam Cao: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối... nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”. Chử Văn Long đã nghe thấu “tiếng đau khổ” ấy rung lên bần bật trên từng sợi rơm quê mùa, để độc giả thấy xót xa hơn, thấu hiểu hơn thân phận của đồng loại mình.

Từ đỉnh cao của sự thấu cảm, những vần thơ vút lên thành một niềm day dứt mang đậm triết lý nhân sinh, gõ cửa lương tri và âm thầm thanh lọc tâm hồn người đọc:

“Người gánh rơm đi vào thành phố Bán cho ai trộn vữa trát trần Hay là để nhắc lòng ta nhớ Bao nắng sương hạt gạo mình ăn... Người gánh rơm đi vào thành phố...”

Nhà thơ đặt ra hai câu hỏi tu từ mang tính chất song hành và đối thoại trực tiếp với lương tâm mỗi người. Người lao động mang rơm vào thành phố hoa lệ để làm gì? Để “trộn vữa trát trần” ư? Phải chăng thành phố chỉ cần mua rơm để đắp lên những bức tường vô tri, lạnh lẽo? Nhưng vượt lên trên giá trị sử dụng vật chất phàm tục ấy, qua đôi mắt của Chử Văn Long, gánh rơm mang một sứ mệnh tâm linh to lớn: “nhắc lòng ta nhớ”. Trong guồng quay hối hả của nền kinh tế thị trường, con người thị thành dễ bị những giá trị vật chất hào nhoáng làm cho mờ mắt, dễ vô tình lãng quên đi gốc gác, cội nguồn. Gánh rơm lam lũ bỗng hóa thành một “sứ giả của cội nguồn”, thức tỉnh trong ta đạo lý thiêng liêng “uống nước nhớ nguồn”. Mỗi bát cơm trắng ngần ta ăn hôm nay, đâu chỉ có vị ngọt của tinh bột, mà nó được nén lại bằng “bao nắng sương”, bằng những nếp nhăn và giọt mồ hôi mặn chát của những người như chị gánh rơm kia. Văn chương không bao giờ thuyết giáo đạo đức bằng những mệnh lệnh khô khan, cứng nhắc. Chử Văn Long dùng chính sự rưng rưng của lòng mình để truyền ngọn lửa ấm áp ấy sang trái tim độc giả, khiến ta phải giật mình tự vấn, phải biết cúi đầu hàm ơn trước những điều bé nhỏ nhất làm nên sự sống.

Câu thơ cuối “Người gánh rơm đi vào thành phố...” lặp lại câu thơ mở đầu như một vòng tuần hoàn không dứt của cuộc mưu sinh. Dấu chấm lửng (...) đặt ở cuối bài thơ giống như một nốt trầm ngân vang. Chuyến đi ấy vẫn còn tiếp diễn, những nhọc nhằn dường như chưa có hồi kết, và câu hỏi về lòng biết ơn vẫn treo lơ lửng, đợi mỗi chúng ta tự viết tiếp câu trả lời bằng chính thái độ sống của riêng mình.

Sức nặng của bài thơ không chỉ nằm ở chiều sâu tư tưởng mà còn hiện diện qua một hình thức nghệ thuật tinh tế. Thể thơ tự do phóng khoáng dường như không bị gò ép bởi niêm luật mà nương theo nhịp đập thổn thức của cảm xúc. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc như chính củ khoai, hạt lúa quê nhà, nhưng lại có sức bám rễ sâu xa vào tâm trí người đọc nhờ biện pháp điệp từ, điệp cấu trúc. Sự đối lập tài tình giữa cái ồn ào vĩ mô của thành phố và cái tĩnh lặng, nhẫn nại của gánh rơm đã tạo ra một độ căng nghệ thuật tuyệt vời, nâng đỡ trọn vẹn chủ đề tác phẩm.

Nhà thơ R. Gamzatov từng răn dạy những người cầm bút: “Thơ ca, nếu không có tình yêu, nó chỉ là những tiếng động rỗng tuếch”. Bài thơ Người gánh rơm vào thành phố neo đậu được vĩnh viễn trong bến bờ tâm hồn người đọc, suy cho cùng, không nằm ở kĩ xảo ngôn từ hay sự làm xiếc chữ nghĩa, mà ở tấm lòng nồng hậu của tác giả. Chính cái nhìn trân trọng trước hiện thực lấm láp, chính trái tim yêu thương con người đã đánh thức linh hồn cho một sự vật vô tri, biến nó thành tấm gương phản chiếu để con người soi lại nhân cách mình. Qua tác phẩm, ta càng thấm thía tính chân lí của nhận định về cội nguồn văn chương. Mọi kĩ thuật phô diễn tài năng sẽ trở nên vô nghĩa nếu ngòi bút không được cắm rễ vào lòng nhân ái.

Gấp lại trang giấy, hình ảnh “bó rơm to che lút hết người” vẫn còn để lại trong tôi một nỗi niềm thao thức khôn nguôi. Nó mang đến cho những người trẻ đang ngày ngày lớn lên giữa ánh đèn hoa lệ của phố thị một khoảng lặng tĩnh tâm. Bài thơ dạy ta biết sống chậm lại giữa bộn bề, biết nhìn thấu qua lớp vỏ bọc hào nhoáng để nâng niu những giọt mồ hôi thầm lặng. Bởi đến cuối cùng, sự vĩ đại của văn chương chính là quyền năng cảm hóa con người, làm cho phần Người trong mỗi chúng ta vươn cao hơn, trong sáng hơn.