Bài mới

Ngữ liệu

Đề thi

Tự học

Công nghệ

Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2026 môn Ngữ văn Hải Phòng (Trường THPT Thái Phiên)

Đăng ngày tháng 5 01, 2026

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI PHÒNG

TRƯỜNG THPT THÁI PHIÊN

ĐỀ KHẢO SÁT KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT

Năm học 2025-2026

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút (không tính thời gian phát đề)

Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2026 môn Ngữ văn Hải Phòng

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản:

Bạn nên làm gì để định hướng tương lai cho mình? Cách tốt nhất là lập ra một bản nhiệm vụ cho bản thân. Nó cũng giống như một bức phác họa cuộc đời bạn vậy, nó cũng tương tự như chức năng của các thể chế của những quốc gia. Các công ty lớn như Microsoft hoặc Coca - Cola cũng có những bản nhiệm vụ như vậy.

Vậy tại sao bạn chưa lập bản nhiệm vụ của riêng mình? Những bạn trẻ khác cũng đã làm rồi đấy. Nó có thể dài hay ngắn, có thể là một bài thơ hoặc có thể là một bản nhạc, có những bạn lại chọn một câu danh ngôn làm bản nhiệm vụ cho mình, người khác lại chọn một bức tranh hay một tấm hình. Tôi đã gặp một cậu bé tên Adam Sosne, cậu ta có một bản nhiệm vụ tương tự như 7 thói quen: Tự trọng và tôn trọng mọi người xung quanh; Tử tế với mọi người; Biết đặt ra mục tiêu; Không bao giờ xao lãng mục tiêu; Luôn học hỏi; Muốn thay đổi những người xung quanh thì trước tiên phải thay đổi mình; Hành động chứ không nói suông.

Một bản nhiệm vụ cá nhân cũng giống như một cái cây có rễ sâu: khi gặp mưa dông gió bão trong đời, bạn có thể nương náu dưới bóng cây này – nó sẽ giữ cho bạn vững vàng và không bị cuốn đi. Hãy hình dung xem, có thể những biến cố không ngờ sẽ đến với bạn: bạn mất việc, bạn phải dời nhà, chiến tranh xảy ra, bố mẹ li dị. Khi đó, bản nhiệm vụ cá nhân cũng như một cây cổ thụ sẽ giúp bạn vượt qua và giữ vững bản thân. Vậy ngay từ bây giờ, bạn nên đề ra bản nhiệm vụ của riêng bản thân mình.

(Trích 7 thói quen của bạn trẻ thành đạt, Sean Covey, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2020, tr.108-110)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra bằng chứng được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Một bản nhiệm vụ cá nhân cũng giống như một cái cây có rễ sâu.

Câu 4. Trình bày mục đích của tác giả được thể hiện qua văn bản.

Câu 5. Từ nội dung Hành động chứ không nói suông trong bản nhiệm vụ của cậu bé tên Adam Sosne được nhắc đến trong văn bản, anh/chị hãy đề ra những việc cần làm khi đứng trước ngưỡng cửa trưởng thành.

II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh.

Câu 2 (4,0 điểm)

Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật trong hai đoạn trích sau:

Tôi nhớ năm lên lớp hai có lần đau chân không đi học được, mẹ bế tôi đặt vào một đầu thúng rồi gánh tới lớp, đầu kia là cặp sách và đứa em út của tôi mới vừa biết lật phải mang theo luôn vì để ở nhà không có ai trông. Tôi đội chiếc mũ tai bèo cũ rách của cha, mẹ che nắng cho em bằng chiếc nón mê thủng lỗ chỗ còn trên đầu mẹ chỉ buộc một tấm khăn vuông. Ngồi trong thúng tôi cứ ước con đường dài mãi ra để được xoay xoay bồng bềnh theo từng nhịp chân của mẹ, đâu biết rằng mẹ vừa sinh xong dậy mất sức lại thiếu ăn nên vừa run rẩy bước vừa cắn răng nén những cơn đau. Niềm vui lớn nhất thuở ấu thơ chúng tôi là lúc mẹ đi chợ về. Đôi quang gánh của mẹ dường như gánh theo cả thế giới bí mật thần kỳ với bao nhiêu thức quà từ phố huyện. Hôm nào mẹ đi chợ là chị em cứ tha thẩn chơi loanh quanh đầu ngõ, thấy bóng mẹ từ đằng xa liền reo lên háo hức chạy ùa tới đón. Mẹ mỉm cười lau mồ hôi đặt gánh xuống khỏi vai, chiếc mẹt thưa đậy trên thúng được mở ra từ từ, bên dưới đó thế nào cũng có một đùm kẹo bột, chiếc bánh tráng nướng giòn hay gói bỏng ngô thơm nức. Những món quà ít ỏi được chia đều cho mấy đứa con đang đứng vây xung quanh, thòm thèm đến nỗi hai tay lấm lem đất cát chỉ kịp chùi vội vào vạt áo rồi xòe ra đợi lấy phần của mình. Thế nhưng cũng có hôm chợ ế, mẹ gánh rau đi lại gánh rau về, mở chiếc thúng ra chỉ có mớ dưa cải đọt khoai héo rũ, chị em tôi ngơ ngác nhìn nhau. Mẹ nói hôm nay bà bán kẹo đi vắng nên bữa sau mới mua được nhưng bé út không chịu liền òa lên khóc nức nở. Tôi cố lục tìm lần nữa trong thúng vẫn chẳng thấy gì nên mếu máo khóc theo. Mẹ bế hai đứa lên tay càng cố sức dỗ dành thì em khóc càng to, mồ hôi lẫn với nước mắt ướt đầm manh áo vá. Hình như trong đó có cả nước mắt đắng cay xa xót phận nghèo của mẹ mà chúng tôi vô tâm nào có biết.

(Trích Mẹ gánh con đi, Trần Thị Tú Ngọc, in trong Thương nhớ miền Trung, NXB Thanh Niên, 2020, tr.199-200)

Mỗi ngày của mẹ, cùng đôi quang gánh của con tôm cái tép, mẹ bước dài trong màn trời vàng cháy màu nắng, gió lộng, cùng cái nóng lún chân của dãi cát bỏng. Bước chân mẹ cùng đôi quang gánh chông chênh hằn lên vệt dài, mong manh kéo đến tận chân trời. Lũ anh em chúng tôi đứng nhìn dáng mẹ hút dần về phía xa, rồi reo lên ùa chạy vù ra đồi cát thỏa sức chơi đùa. Ngày hai đứa em tôi lên 3 lên 4, chúng hay nằng nặc đòi theo mẹ vượt qua những đồi cát để về làng Ninh Thủy, nơi mẹ buôn bán. Mẹ mỉm cười rồi chiều ý. Thế là từ những lần như vậy, mẹ để mỗi đứa vào một đầu gánh, và nhọc nhằn gồng gánh hai con qua dặm dài đồi cát. Hai đứa tíu tít cười đùa, mẹ mím môi cười qua đôi mắt, biển như thương tình, thổi gió ào ạt, tấm áo lưng mẹ vẫn bền bệt mồ hôi. Lần đó, anh em chúng tôi biết mẹ chưa tầm giờ về và kéo ra biển như mọi bận. Nhưng hôm đó mẹ bệnh, phải sớm phiên chợ về. Từ trên cao đồi cát, mẹ thấy ba anh em chúng tôi lặn ngụp nơi khúc biển vắng, mẹ tung đôi quang gánh, chạy ào theo triền cát lao về phía chúng tôi. Chúng tôi thấy mẹ té, rồi mẹ đứng lên chạy, mẹ ra sức ngăn chúng tôi, mẹ lại té lăn theo triền cát. Trận đòn đêm ấy không làm tôi đau, nhưng tôi đau vì lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mẹ té vùi trong cát. Lũ anh em chúng tôi lớn dần lên và bước chân mẹ trên những đồi cát dường như lại tất tả hơn cùng cát nóng. Sáng sớm tinh mơ, mẹ đã trẩy đôi quang gánh vượt đồi cát ra chợ, trưa mẹ về cùng con cá con tôm, rồi mẹ lại đi. Cứ mỗi lần như vậy, chúng tôi chỉ háo hức những thứ mẹ đem về, chúng tôi nào biết đôi chân tấy đỏ, bỏng rát cùng bờ vai chai sần quang gánh mà mẹ chẳng bao giờ cho chúng tôi xem.

(Trích Mẹ và đồi cát, Tạ Tư Vũ, in trong Thương nhớ miền Trung, NXB Thanh Niên, 2020, tr.360-361)

Chú thích:

- Tác giả Trần Thị Tú Ngọc sinh năm 1984, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Chị là một trong số ít những cây bút nữ có năng lượng dồi dào, sức sáng tạo mạnh mẽ, tinh thần làm việc tích cực.

- Tác giả Tạ Tư Vũ sinh năm 1982, là nhà biên kịch, nhà báo, nhà văn ở Sài Gòn. Văn của Tạ Tư Vũ chân thực, giản dị gần gũi, dễ hiểu với những đề tài quen thuộc dễ khơi dậy nhiều cảm xúc trong lòng người đọc.

- Mẹ gánh con đi, Mẹ và đồi cát là những tác phẩm dự thi trong cuộc thi Thương nhớ miền Trung của báo Thanh Niên năm 2021.

----- HẾT -----

Thí sinh không được sử dụng tài liệu; Giám thị không giải thích thêm.


PHẦN 2: ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

4,0

1

Luận đề của văn bản: Tầm quan trọng của việc lập bản nhiệm vụ cho bản thân

0,5

2

Bằng chứng được sử dụng trong văn bản:

- Các công ty lớn như Microsoft hoặc Coca-Cola

- Một bài thơ, một bản nhạc, một câu danh ngôn, một bức tranh hay một tấm hình.

- Bản nhiệm vụ của cậu bé tên Adam Sosne

- Những biến cố: bạn mất việc, bạn phải dời nhà, chiến tranh xảy ra, bố mẹ li dị.

Hướng dẫn chấm:

- Thí sinh trả lời từ 03 dẫn chứng trở lên: 0,5 điểm

- Thí sinh trả lời 01 đến 02 dẫn chứng: 0,25 điểm

0,5

3

Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh:

- Làm cho cách diễn đạt trở nên cụ thể, sinh động, giàu hình ảnh, từ đó giúp lập luận thêm thuyết phục, hấp dẫn.

- Nhấn mạnh quan điểm của tác giả: bản nhiệm vụ cá nhân có vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi người.

Hướng dẫn chấm:

- Thí sinh trả lời bằng từ ngữ, cách diễn đạt tương đương vẫn chấm điểm tối đa.

- Thí sinh trả lời 01 ý: cho 0,5 điểm.

1,0

4

Mục đích của tác giả:

- Bày tỏ, khẳng định quan điểm cá nhân về tầm quan trọng của bản nhiệm vụ cá nhân trong cuộc sống.

- Thuyết phục, khuyên nhủ mọi người hãy đề ra bản nhiệm vụ của riêng bản thân mình ngay từ bây giờ.

Hướng dẫn chấm:

- Thí sinh trả lời bằng từ ngữ, cách diễn đạt tương đương vẫn chấm điểm tối đa.

- Thí sinh trả lời 01 ý: cho 0,5 điểm.

1,0

5

Nội dung Hành động chứ không nói suông: coi trọng hành động cụ thể, thiết thực hơn những lời nói suông.

- Thí sinh đề ra những việc cần làm trước ngưỡng cửa trưởng thành (có thể theo hướng: trau dồi tri thức, kĩ năng; xác định mục tiêu, định hướng nghề nghiệp và lập kế hoạch cụ thể để từng bước thực hiên; rèn luyện tinh thần tự lập, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm...)

Hướng dẫn chấm:

- Thí sinh trả lời được ý 1: 0,25 điểm

- Thí sinh trả lời được ý 2: 0,75 điểm. Thí sinh có thể bày tỏ nhận thức, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với thực tiễn.

1,0

II

VIẾT

6,0

1

Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh.

2,0

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng đoạn văn

Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng đoạn văn (khoảng 200 chữ). Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, song song hoặc tổng hợp.

Hướng dẫn chấm: Thí sinh trình bày đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng đoạn văn (khoảng 200 chữ): chấm 0,25 điểm ý này. Thí sinh viết dưới 100 chữ hoặc trên 300 chữ: chấm 0 điểm ý này.

0,25

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Sự cần thiết phải thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh.

0,25

c. Viết đoạn văn bảo đảm các yêu cầu

Lựa chọn các thao tác nghị luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và bằng chứng để làm rõ vấn đề nghị luận. Có thể triển khai nội dung theo hướng:

- Giải thích: Thay đổi bản thân trước khi thay đổi người xung quanh: cần điều chỉnh suy nghĩ, thái độ, hành vi của chính mình theo hướng tích cực, hoàn thiện hơn nếu muốn tạo ảnh hưởng tích cực đến người khác.

- Bình luận: Bản thân là yếu tố chủ động và dễ kiểm soát, điều chỉnh hơn là ép buộc người khác thay đổi. Thay đổi bản thân trước khi thay đổi người khác giúp ta nhìn nhận vấn đề khách quan, tránh phán xét, áp đặt. Hành động, lối sống tích cực của bản thân có sức lan tỏa và thuyết phục mạnh hơn lời nói. Khi ta hoàn thiện mình, người khác sẽ tự soi chiếu và điều chỉnh.

Hướng dẫn chấm:

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng; cho 1,25 điểm.

- Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng nhưng không có bằng chứng hoặc bằng chứng không tiêu biêu; cho 0,5 – 1,0 điểm.

- Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không liên quan mật thiết đến vấn đề nghị luận, không có bằng chứng hoặc bằng chứng không phù hợp: cho 0,25 điểm.

1,0

d. Diễn đạt

Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn; có cách diễn đạt hay và sáng tạo.

Hướng dẫn chấm: Không cho điểm ý này nếu bài làm có trên 05 lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

0,25

đ. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

Hướng dẫn chấm: Thí sinh huy động được kiến thức và trải nghiệm văn học của bản thân để bàn luận; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, lời văn có giọng điệu, hình ảnh...

- Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên: chấm 0,25 điểm.

- Không đáp ứng được yêu cầu nên trên: chấm 0 (không) điểm.

0,25

2

Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật trong hai đoạn trích hai tác phẩm Mẹ gánh con đi, Mẹ và đồi cát.

4,0

a. Bảo đảm về dung lượng của bài văn nghị luận

Bảo đảm yêu cầu về dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn nghị luân.

Hướng dẫn chấm: Thí sinh xác định đúng yêu cầu kiểu bài về dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn: chấm 0,25 điểm ý này. Thí sinh viết dưới 400 chữ hoặc trên 800 chữ: chấm 0 điểm ý này.

0,25

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

So sánh, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật trong hai đoạn trích.

Hướng dẫn chấm: Thí sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm. Thí sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm.

0,5

c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu

Lựa chọn các thao tác nghị luận phù hợp, kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và bằng chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:

- Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận

- Thân bài: Giới thiệu khái quát 2 tác giả, 2 tác phẩm, 2 đoạn trích và cơ sở so sánh.

1. So sánh, đánh giá chủ đề của hai đoạn trích:

+ Tương đồng: đều ca ngợi tình yêu thương, sự hi sinh nhọc nhằn và bền bỉ của người mẹ nghèo.

+ Khác biệt:

Mẹ gánh con đi: chủ đề được thể hiện chủ yếu qua nỗi cơ cực của người mẹ trong đời sống nghèo khó, được nhìn lại bằng sự xót xa, day dứt muộn màng của người con khi đứa trẻ ngày ấy chỉ biết hưởng niềm vui nhỏ bé mà không thấu hiểu những cơn đau thể xác và tinh thần của mẹ.

Mẹ và đồi cát: chủ đề được mở rộng theo chiều dài thời gian, khắc họa sự hi sinh bền bỉ, liên tục của mẹ suốt hành trình trưởng thành của con. Không chỉ là đối diện với cái nghèo, người mẹ còn phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt (cát nóng, gió biển, nắng cháy). Đặc biệt, chi tiết người mẹ ngã trên cát vì cứu con đã trở thành điểm nhấn bị thương, khắc sâu trong tâm trí người con và làm thức tỉnh nhận thức về tình mẹ.

2. So sánh, đánh giá đặc sắc nghệ thuật của hai đoạn trích:

+ Tương đồng: Đều sử dụng ngôi kể thứ nhất, giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc và có sức lay động mạnh. Đều lựa chọn miêu tả những chi tiết đời thường (đòn gánh, thúng hàng, mồ hôi, đôi chân, bờ vai...) được khai thác tinh tế, góp phần làm nổi bật hình ảnh người mẹ tảo tần. Giọng văn trữ tình, giàu cảm xúc, đan xen giữa kể – tả – biểu cảm, tạo nên chiều sâu tâm trạng.

+ Khác biệt:

Mẹ gánh con đi: bút pháp hiện thực kết hợp hồi tưởng. Các chi tiết nhỏ bé, gần gũi (món quà quê, mớ rau héo, manh áo vá...) được chọn lọc tinh tế, gợi lên cả một không gian nghèo khó mà ấm áp. Nghệ thuật đối lập giữa niềm vui trẻ thơ và nỗi đau người mẹ tạo nên sức ám ảnh lặng lẽ, thấm sâu.

Mẹ và đồi cát: bút pháp miêu tả giàu tính tạo hình, với những hình ảnh mang màu sắc thiên nhiên khắc nghiệt: đồi cát, nắng cháy, gió lộng, biển rộng. Nhịp văn dài, dồn dập, kết hợp nhiều động từ mạnh (chạy ào, té, lao về) đã làm nổi bật nhịp sống vất vả và sự hi sinh quyết liệt của người mẹ.

3. Lí giải nguyên nhân điểm tương đồng, khác biệt:

+ Đều cùng 1 góc nhìn về mảnh đất miền Trung với những nhọc nhằn, gian lao của người mẹ.

+ Nhân vật được đặt trong những hoàn cảnh và những mối quan hệ khác nhau...

- Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận

(Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.)

Hướng dẫn chấm:

- Phân tích, so sánh, đánh giá toàn diện, sâu sắc, vận dụng phù hợp các thao tác nghị luận, hệ thống luận điểm logic, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng: 2,75 điểm

- Phân tích, so sánh, đánh giá tương đối toàn diện nhưng chưa thể hiện tính sáng tạo: 2,25 điểm - 2,5 điểm.

- Phân tích, so sánh, đánh giá chưa toàn diện hoặc chưa sâu sắc: 1,5 điểm - 2,0 điểm.

- Phân tích, so sánh, đánh giá còn chung chung: 0,75 điểm - 1,25 điểm.

- Phân tích, so sánh, đánh giá không rõ trọng tâm: 0,25 điểm - 0,5 điểm.

2,75

d. Diễn đạt

Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản; có cách diễn đạt hay và sáng tạo

Hướng dẫn chấm: Không cho điểm ý này nếu có trên 10 lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

0,5

đ. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

Hướng dẫn chấm: Thí sinh nêu được quan điểm cá nhân; biết vận dụng các thao tác nghị luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng; trình bày hệ thống luận điểm phù hợp với bố cục bài văn nghị luận; văn viết giàu hình ảnh, cảm xúc.

- Đáp ứng được 3 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm.

- Đáp ứng được 1-2 yêu cầu: 0,25 điểm.

- Không đáp ứng được các yêu cầu nêu trên: 0 (không) điểm ý này

0,5

TỔNG ĐIỂM

10,0